Lộc Tồn thuộc âm thổ, Thiên Mã thuộc dương hỏa. Lộc Tồn là sao thuộc Bắc Đẩu, Thiên Mã là sao thuộc Trung Thiên, cho nên hai sao này không cần thành cặp, nhưng đơn độc hội hợp cũng có phân biệt về tính chất.
Phái Trung Châu Vương Đình Chi xếp Lộc Tồn và Thiên Mã vào “tá diệu”, đó là vì, lúc hai sao này phối hợp thành cách cục “Lộc Mã giao trì” sẽ chủ về không có gì bất lợi, lợi nhất là kiếm tiền ở nước ngoài (hoặc nơi xa), hoặc chủ về ra ở nước ngoài (hoặc ở nơi xa) thì được tài vận. Nhưng tài vận này vẫn phải do mệnh tạo nỗ lực mới có được, cho nên thuộc về “tự lực”.
“Lộc Mã giao trì”rất ưa trùng điệp, như Lộc Tồn (hoặc Hóa Lộc) của nguyên cục hội hợp với Lưu Lộc (hoặc Lưu Hóa Lộc) của vận hạn; Thiên Mã của nguyên cục hội hợp với Lưu Mã của vận hạn, đây gọi là “Lộc trùng điệp”, “Mã trùng điệp”, càng làm mạnh thêm vận khí có tiền bạc.
Nếu chỉ có “Lộc trùng điệp” mà không có “Mã trùng điệp” thì vẫn đại lợi về cầu tài, nhưng không có xuất ngoại; nếu chi có “Mã trùng điệp” mà không có “Lộc trùng điệp”, thì chỉ chủ về xuất ngoại du lịch, hoặc chỉ chủ về bốn ba mà không có điềm ứng kiếm được tiền.
Cung sự nghiệp có Lộc Tồn và Thiên Mã trùng điệp, chủ về sự nghiệp chỉ cát lợi khi có biến động, chuyển dời. Cung giao hữu có Lộc Tồn và Thiên Mã trùng điệp, chủ về người dưới quyền có biển động thay đổi.
Cung vị lục thân gặp Lộc Tồn và Thiên Mã trùng điệp, đây là điểm chia li; nếu lại gặp các sao sát, kị thì tính chất chia li sẽ kèm hung hiểm.
Lộc Tồn tuy là sao tiền tài, nhưng chỉ chủ về thu nhập cố định, cần phải hội hợp với Hóa Lộc (ưa nhất là các sao tiền tài như Vũ Khúc Hóa Lộc, Thái Âm Hóa Lộc, hoặc Tham Lang Hóa Lộc chủ về ham muốn vật chất), mới chủ về nguồn tiền tài dồi dào; nếu lại gặp Thiên Mã thì nguồn tiền tài lâu dài mà “tài lộ” còn thênh thang.
Lộc Tồn luôn luôn bị Kình Dương và Đà La giáp cung, do đó “tài lộ” không rộng, nhưng lại lâu dài. Nếu Lộc Tồn đồng độ với chính diệu Hóa Kị, thì biến thành “Kình Dương, Đà La giáp Kị”, trái lại sẽ chủ về có sự cố bị phá tài. Muốn biết nhân tố phá tài, phải xem tính chất của tinh hệ chính diệu mà định. Cách “Hỏa Tham” hội hợp với Lộc Tồn, chủ về có tiền bất ngờ rất dồi dào, nhưng dễ phát dễ bại.
Lộc Tồn ưa đồng cung với tám sao Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thiên Lương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Thái Âm, Thái Dương, khuyết điểm khá ít. Nếu đồng cung với các sao khác thì dễ có khuyết điểm lớn. Như Thiên Cơ có bản chất sốc nối, không thiết thực xung đột với bản chất đôn hậu của Lộc Tồn; Liêm Trinh xử sự thiên nặng tình cảm, cũng xung đột tính chất với Lộc Tồn chất phác, vụng về.
Lộc Tồn và Hóa Lộc tương hợp ở cung độ lục hợp, tức chia ra ở sáu nhóm cung Tí Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tị Thân, Ngọ Mùi, gọi là “ám hợp “, tuy không tốt bằng “minh hợp” “Lộc trùng điệp”, nhưng cũng có tác dụng tốt.
Lộc Tồn và Hóa Lộc giáp mệnh, chủ về cuộc đời gần gũi với tiến tài. Nhất là Thiên Tướng thủ mệnh, chủ về nắm quyền tài chính. Nhưng nếu đối cung là “Vũ Khúc, Phá Quân” Hóa Kị xung chiếu, thì chủ về vì họa tai hoặc vì bệnh tật mà phá tài.
Phá Quân đồng độ với Lộc Tồn, Địa Không, Địa Kiếp, chủ về tiền của ngày một tiêu ma, hoặc thu nhập không tăng mà còn giảm.
Hễ cung giao hữu gặp Lộc Tồn, thì cung mệnh ắt sẽ có Kình Dương, Đà La hội chiếu, chủ về vất vả.
Cung phu thê gặp Lộc Tồn, có Hóa Lộc đến hội, gọi là cách “Lộc hợp uyên ương”, chủ về có chồng giàu có, nam mệnh chủ về được vợ vượng phu, được vợ trợ lực, hoặc được gia đình vợ nâng đỡ mà tạo nên sự nghiệp.
Thiên Mã ưa hội hợp với sao lộc (Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đều được) mới chủ về có nguồn tiền tài, nếu không, chỉ là thay đổi chuyển dời, hoặc là bôn ba vất vả. Nếu Thiên Mã đồng độ với sao không, sẽ chủ về vất vả mà chẳng đưoc gì. Đồng độ với Địa Không là tệ nhất, Thiên Không là kế đó.
Thiên Mã đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh; lưu niên có sát tinh đến cung, nếu ở cung lục thân thì chủ về hình khắc.
Thiên Mã đồng cung với Đà La, chủ về xuất hành gặp trở ngại (Lưu Đà đến cung lưu nhật, chủ về có lầm lẫn chuyến xe hay chuyến bay).
Thiên Mã và Thiên Hình cùng bay đến cung thiên di và cung sự nghiệp, chủ về muốn thay đổi công tác mà không thành; nếu gặp sát tinh, thì bị buộc phải thay đổi công tác.
Thiên Mã bay đến cung vị Tuyệt ở cung mệnh hay cung thiên
di, chủ về bôn ba mà không có thu hoạch, cuộc đời khó có cơ hội phát triển ở nơi xa.
Thiên Mã có Đà La hội chiếu, lại gặp tinh hệ chính diệu không cát tường, sẽ chủ về con đường lầm lạc. Cung mệnh hoặc cung phu thê của nữ mệnh mà gặp tổ hợp này, dễ chọn chồng lầm; cung mệnh hoặc cung phúc đức của nam mệnh mà gặp tổ hợp này, dễ chọn lầm nghề nghiệp.
Thiên Mã gặp Giải Thần (Nguyệt Giải, Niên Giải) ở cung mệnh hoặc cung phu thê của lưu niên, bị xung khởi, nếu cung phu thê của nguyên cục không cát tường, thì chủ về li hôn hoặc ở hai nơi.
Thiên Mã ưa đồng cung hoặc hội chiếu với Tử Vi, cổ nhân gọi là “loan dư” (xe vua đi), có thể làm tăng khí thế của Tử Vi.
Thiên Mã đồng cung với Thiên Lương, chủ về phiêu lưu bất định.
