Cự Môn tổng luận 

Cự Môn là sao thứ hai của Bắc Đầu, thuộc âm thổ, khí của nó thuộc âm kim. Trong Đẩu Số, Cự Môn là ám tinh. Gọi là “ám tinh”, chắng phải nói bản thân Cự Môn không có ánh sáng, mà là nói nó giỏi che mất ánh sáng của người khác, cho nên gọi là “ám”. 

“Che mất ánh sáng của người khác” là sắc thái đặc biệt nhất của nó. Trường hợp ở xã hội, nghị luận thao thao, người khác đều biến thành thính giả, cách biểu hiện cái tôi như vậy là sắc thái đặc biệt của Cự Môn. Hơn nữa, Cự Môn còn thích tiết lộ chuyện riêng tư của người khác. Cho nên cổ nhân nói đặc tính của Cự Môn là “gây chuyện thị phi sau lưng” (bối diện thị phi). 

Cự Môn còn có một sắc thái đặc biệt khác là đa nghi. Cổ nhân nói nó “ở người thì chủ về ám muội, đa nghi thị phi” (vu nhân chủ ám muội, đa nghi thị phi). Đây là do Cự Môn đánh giá người khác phần nhiều thiên nặng về mặt “âm ám”, cách nhìn rất phiến diện, đương nhiên có nhiều nghi ngờ. 

Do hai tính cách này nên quan hệ giao tế của Cự Môn không được tốt, nói “ít hợp với lục thân, giao du với người lúc đầu thì tốt, sau cùng thì xấu” là do lí luận này. 

Vì vậy lúc đánh giá mệnh cục Cự Môn cần phải chú ý các sao nó hội hợp, xem chúng làm mạnh thêm hai đặc tính này, hay là làm giảm bớt hai đặc tính này, hoặc có thể nhuyễn hóa hai đặc tính này. 

Sao có thể hóa giải sự “âm ám” của Cự Môn mạnh nhất là Thái Dương ở cung miếu vượng. Cổ nhân nói: “Cự Nhật đồng cung, phong quan ba đời.” (Cự nhật đồng cung, quan phong tam đại). Trường hợp “Thái Dương, Cự Môn” ở cung Dần là đúng, do Thái Dương ở cung Dần là mặt trời mọc ở phương đông, ánh sáng rực rỡ đang thịnh, có thể hóa giải “âm ám” của Cự Môn. 

Nếu Thái Dương ở cung Ngọ, sẽ hội hợp với Cự Môn thủ mệnh ở cung Tuất, cũng dư sức hóa giải tính “âm ám” thị phi của Cự Môn, nên cũng gọi là kết cấu đẹp. Ngoại trừ Thái Dương có thể hóa giải tính “âm ám” của nó ra, chỉ còn dùng Hóa Quyền và Hóa Lộc để hóa giải. Cự Môn sau khi Hóa Lộc, khí chất của nó biến thành khéo ăn khéo ở; còn Cự Môn sau khi Hóa Quyền thì giảm bớt lòng nghi kị, do đó cũng có thể cải thiện đặc tính của Cự Môn. 

Phàm Cự Môn có cách cục tốt, đều ưa Hóa Lộc, Hóa Quyền, là do duyên cớ này. 

Có Thiên Cơ đồng độ hoặc đối cung, sẽ làm mạnh thêm khuyết điểm của Cự Môn, bởi vì Thiên Cơ sẽ khiến Cự Môn biến thành trôi nổi, không thiết thực, mà còn làm tăng đặc tính đa nghi của nó, cũng sẽ khiến nó hay “gây chuyện thị phi sau lưng”, nhờ ngôn từ mưu trí và quyền biến để chiếm lòng tin của người khác. Cần phải Hóa Lộc, Hóa Quyền, và hội hợp với các sao cát, mới là cách cục tốt. Nếu có sát tinh đồng cung, là cách cục phá tán, thất bại. 

Sát tinh cũng có thể làm tăng đặc tính xấu của Cự Môn. Cự Môn ở hai cung Thìn hoặc Tuất là hãm địa, thì càng nặng. Vì vậy cổ nhân nói, “Cự Môn sợ hai cung Thìn hoặc Tuất hām địa” (Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cự Môn); “Cự Môn gặp tứ sát tinh mà ở cung hãm thì hung” (Cự Môn tứ sát hãm nhi hung); “Cự Môn mà gặp Hỏa Tình và Kình Dương thì cuối đời tự ải”  (Cự Hoả Kình Dương, chung thân ải tử); “Cự Môn gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, mà không có Tử Vi và Lộc Tồn áp chế, thì nhất định sẽ bị đày ngàn dặm” (Cự Môn Hoả Linh, vô Tử Vi Lộc Tồn áp chế, quyết phối thiên lí). 

Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc có thể nhuyễn hóa tính cách xấu của Cự Môn thành tốt đẹp. 

Tả Phụ và Hữu Bật chủ về trợ lực, Văn Xương và Văn Khúc chủ về tài năng. Sau khi có tài năng rồi, tuy nói nhiều cũng sẽ không chuyên đi che ám người khác; sau khi được trợ lực rồi, cũng sẽ giảm bớt lòng nghi kị, mà còn có thể mang tính nghi kị biến thành tính lo toan nghĩ ngợi một cách hữu ích. 

Cho nên Cự Môn tuyệt đối không nên gặp sát tinh, mà rất ưa gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, và Tả Phụ, Hữu Bật Văn Xương, Văn Khúc. 

Với tính chất sau khi chuyển hóa thành tốt của Cự Môn, rất thích hợp làm những nghề nghiệp coi tài nói năng là nhân tố quan trọng. Người thuộc thượng cách có thể là luật sư hay nhân tài ngoại giao, đây phần nhiều là lấy “tính hay nói xấu” nhuyễn hóa thành “giỏi biện luận”, lấy “tính nghi kị” nhuyễn hóa thành “tính lo toan nghĩ ngợi”. Cũng thích hợp làm nghề bán hàng, chào hàng, dạy học, hoặc nghệ thuật biểu diễn để mưu sinh. 

Cự Môn phân bố ở 12 cung, sẽ đồng độ, hoặc đối cung với ba sao Thiên Đồng, Thái Dương, Thiên Cơ, cho nên có mối quan hệ rất sâu với chúng. 

Ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Cự Môn độc tọa, sẽ đối cung với Thiên Cơ; ở hai cung Mão hoặc Dậu, “Cự Môn, Thiên Cơ” đồng độ. Cho nên ở bốn cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu, là kết cấu “Cự Môn, Thiên Cơ”. 

Ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Cự Môn độc tọa, sẽ đối cung với Thiên Đồng; ở hai cung Sửu hoặc Mùi, “Cự Môn, Thiên Đồng” đồng độ, cho nên ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, là kết cấu “Cự Môn, Thiên Đồng”. 

Ở hai cung Tị hoặc Hợi, Cự Môn độc tọa, ở đối cung sẽ là Thái Dương; ở hai cung Dần hoặc Thân, “Cự Môn, Thái Dương” đồng độ, cho nên ở bốn cung Dần, Thân, Tị, Hợi, là kết cấu “Cự Môn, Thái Dương”. 

Thiên Cơ tính trôi nổi, không thiết thực, nên bất lợi đối với Cự Môn; Thiên Đồng thì có thể hòa với khí của Cự Môn, nhưng lại có thể khiến cho tâm trạng của Cự Môn càng “âm ám” kín đáo; Thái Dương thì có thể dùng ánh sáng rực rỡ của mình để hóa giải tính “âm ám” của Cự Môn, thông thường kết cấu “Cự Môn, Thái Dương” là tốt nhất, nhưng trong đó cũng có biến cách. 

Cự Môn thủ mệnh cũng có một số cách cục nổi tiếng. Cự Môn độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền, gọi là cách “Thạch trung ẩn ngọc”, chủ về mệnh tạo “anh hoa nội liễm” (tài năng không lộ). 

Cự Môn độc tọa ở cung Thìn, Hóa Lộc, được Văn Xương Hóa Kị cùng bay đến, ở đối cung có Thiên Đồng, mà còn hội hợp với Thái Dương Hóa Quyền, Hóa Quyền của Thái Dương có thể điều hòa tính xấu của Cự Môn, hơn nữa bản thân Cự Môn đã Hóa Lộc, tính chất được nhuyễn hóa, còn Thiên Đồng có thể hóa giải Hóa Kị của Văn Xương, vậy là vừa khớp trở thành “cách đặc biệt”. Cố nhân nói: “Cự Môn ở hai cung Thìn hoặc Tuất là không đắc địa, mệnh khổ nhưng trái lại biến thành cách cục đặc biệt.” (Cự Môn Thìn Tuất bất đắc địa, tân nhân mệnh ngộ phản vi kì), là ám chỉ điều vừa nói, nhưng không tiết lộ một điều là cần phải có Văn Xương Hóa Kị đồng độ. 

“Cự Môn, Thiên Cơ” ở cung Mão, Hóa Lộc, hội hợp với Lộc Tồn, mà không có thêm sát tinh, lại được Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt hội chiếu, gọi là cách “Cơ Cự đồng lâm cách”. Nhưng nếu có sát tinh là phá cách, kị nhất là có Kình Dương, Hỏa Tinh. 

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Cự Môn, không chủ về có đặc tính của Cự Môn, mà lại chủ về một đoạn đời người gặp cảnh ngộ bị Cự Môn che phủ. Nếu không có Thái Dương miếu vượng hóa giải, lại không có Quyền Lộc, trái lại còn gặp các sao sát kị, thì chủ về không cát tường, điều tiếng thị phi trùng trùng, mà còn chủ về phạm pháp, kiện tụng; cần phải gặp các sao cát và cát hóa, sau mới hưng thịnh. Cự Môn là sự phiền nhiễu của thị phi, không thể không thận trọng. 

Cự Môn biệt luận

 – Sáu tình huống Cự Môn tọa mệnh 

Cự Môn có quan hệ rất mật thiết với các sao Thái Dương, Thiên Cơ, Thiên Đồng. Chúng phân bổ trong 12 cung như sau: 

 – Ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Cự Môn đối chiếu Thiên Cơ.

 – Ở hai cung Sửu hoặc Mùi, Cự Môn đồng cung với Thiên Đồng.

 – Ở hai cung Dần hoặc Thân, Cự Môn đồng cung với Thái Dương

 – Ở hai cung Mão hoặc Dậu, Cự Môn đồng cung với Thiên Cơ.

 – Ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Cự Môn đối chiếu Thiên Đồng. 

 – Ở hai cung Tị hoặc Hợi, Cự Môn đối chiếu Thái Dương. 

Về đại thể, quan hệ giữa Cự Môn với Thái Dương, đồng cung sẽ không bằng đối chiếu. Bởi vì Cự Môn là “ám tinh”, nếu đồng cung với Thái Dương, là một “minh” và một ám cùng ở một cung vị, trái lại sẽ gây lụy cho Thái Dương. Đối chiếu thì khác, “ám” của Cự Môn không đủ sức truyền đi xa, nhưng ánh sáng và nhiệt của Thái Dương lại có thể chiếu tới Cự Môn, nên có thể giải trừ “ám” của Cự Môn. 

Quan hệ với Thiên Đồng thì đồng cung ưu hơn đối cung. Bởi vì Thiên Đồng có tính cách bảo thủ, chỉ lo bảo toàn bản thân mà bất kể thế sự, và hay sợ việc. Ưu điểm của Cự Môn là không chiếu xạ đối cung của mình, mà còn bị ảnh hưởng ngược lại, khiến tính chất của Cự Môn xảy ra thay đổi. Đồng cung thì khác, hai bên sẽ tác động lẫn nhau, cho nên có thể hơi thay đổi khuyết điểm của Cự Môn, làm giảm bớt điều tiếng thị phi. 

Cự Môn quan hệ với Thiên Cơ, dù đối chiếu hay đồng cung đều có sở trường riêng. Tổ hợp tinh hệ này phần nhiều đều có chút tính chất khéo ăn khéo ở, còn giỏi biểu đạt và điều hòa. Lúc Thiên Cơ và Cự Môn đồng cung, tính chất khéo ăn khéo ở của Thiên Cơ sẽ cải thiện tính chất điều tiếng thị phi của Cự Môn, nhưng cũng đồng thời làm giảm bớt tính chất “Thiên Cơ hóa khí thành khéo léo”, dễ thành đầu môi chót lưỡi, bụng dạ hẹp hòi. Lúc Thiên Cơ và Cự Môn đối chiếu, tính chất hai bên sẽ dung hòa, Thiên Cơ không đến nỗi biến thành bụng dạ hẹp hòi vì ảnh hưởng của Cự Môn, mà Cự Môn cũng không đến nỗi biến thành sốc nổi, không thiết thực, vì ảnh hưởng của Thiên Cơ. Nhưng tính chất điều tiếng thị phi của bản thân Cự Môn vẫn không bị ảnh hưởng, dễ nhanh mồm nhanh miệng mà chuốc họa. 

Cổ nhân nói “Giao du với người có mệnh Cự Môn lúc đầu tốt về sau xấu”, đại khái là lấy tổ hợp “Thiên Cơ, Cự Môn” để nói. Bởi vì, bất kể hai sao đối chiếu hay đồng cung, cũng đều có những khiếm khuyết đáng tiếc, hơi thiếu đường đường chính chính.

 – Cự Môn cát hay hung là do có tài học hay không 

Cổ nhân rất có thiên kiến đối với Cự Môn, có thuyết: “Cự Môn miếu vượng, tuy phú quý cũng không được lâu bền”; “Cự Môn thủ cung mệnh và cung thân, một đời chuốc điều tiếng thị phi”, thậm chí khi luận các cung huynh đệ, phu thê, tử nữ, tài bạch, sự nghiệp, v.v… còn nói “anh em thảm thương”, “vợ chồng thất tiết”, “con cái tổn hậu”, “tiền bạc khéo trộm mà có”… có thể nói là không có chỗ nào đúng. 

Theo Vương Đình Chi, tiền nhân của phái Trung Châu đánh giá Cự Môn khách quan hơn, cho rằng “Cự Môn có lòng chính nghĩa, thường thường sở học ít khi tinh thâm, tài không đủ dể dùng”, nhưng nhờ đó mới có tính bỗng nhiên lãnh ngộ. 

Người có Cự Môn ở cung mệnh, đại khái đều biểu hiện tốt về tính cách của bản thân, thêm vào đó còn giỏi biện luận, do đó thường dễ chuốc tị hiềm đố kị. Nếu như tài học của mệnh tạo đủ sức khiến cho người ta tâm phục thì tính chất “chuốc tị hiềm đố kị” sẽ giảm bớt; nếu không, sẽ khiến người ta ghét tính nói nhiều của mệnh tạo, quan hệ nhân tế đương nhiên rất tệ, gây nên “một đời chuốc điều tiếng thị phi”, “tuy phú quý nhưng không được lâu bền”. Đây cũng là nói, hễ người có Cự Môn tọa cung mệnh, nếu có tài học, mà còn học tinh thâm, thì cũng là mệnh cục tốt. 

Cổ nhân rất ưa Cự Môn đồng cung hoặc đổi chiếu với Thái Dương, cho rằng Thái Dương có thể giải “ám” của Cự Môn, thực ra chỉ vì người có “Cự Nhật thủ mệnh” làm việc quang minh lỗi lạc, dễ làm cho người ta hiểu mình mà thôi. 

Cự Môn ở hai cung Tí hoặc Ngo, tuy không gặp Thái Dương, nhưng có Hóa Lộc, Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa, ba sao hợp chiếu, cổ nhân cũng cho rằng đây là cách cục tốt, gọi là “Thạch trung ẩn ngọc”, đó là vì, nhờ có các sao hóa diệu này nên sở học của mệnh tạo không đến nỗi tệ, thêm vào đó là Thiên Cơ ở đối cung “hóa khí thành khéo léo”, nên vừa có tài học, lại vừa có tu dưỡng, do đó tính chất “điều tiếng thị phi” của Cự Môn sẽ nhuyễn hóa thành tài ăn nói, lời nói ra ắt sẽ khéo léo, biến thành cách cục tốt. 

Cổ nhân luận mệnh thích giấu đi một chút, thường chỉ nêu ra một sao để phán định, cho nên dễ khiến cho hậu nhân mơ mơ hồ hồ, nếu không động não phân tích thì khó mà hiểu được.