KINH DỊCH LÀ GÌ?

Một trong Ngũ kinh (năm tác phẩm kinh điển) của Nho gia, Kinh Dịch, hay như nó vẫn thường được dịch là Quyển sách về sự Biến dịch, là một quyển sách bói toán, một triết lý, đồng thời là một tác phẩm nghệ thuật. Nó đã làm tăng chiều sâu vô hạn cho nền văn hóa Trung Quốc, và giờ đây Kinh Dịch cũng dạng làm như vậy cho văn hóa phương Tây.

Kinh Dịch gồm 64 quẻ, với mỗi quẻ được làm thành từ sáu vạch đứt hay vạch liền (gọi là hào), cộng thêm vào đó là ý nghĩa của các hào và chú giải. Đơn vị biểu tượng cơ bản là một đơn quái. Số lượng đơn quái tối đa được tạo ra từ những kết hợp khác nhau của ba vạch, gồm vạch dứt hay vạch liền là tám. Trùng quái được tạo thành bằng cách chồng các đơn quái lên nhau, và tổng số đạt được là 64. Các vạch, các đơn quái và trùng quái này trượng trưng cho những hiện tượng biến chuyển của vũ trụ. Các vạch này gồm hai loại: vạch dứt, tiêu biểu cho lực âm, và vạch liền, tiêu biểu cho lực dương. Lực âm chỉ sự tiêu cực, thụ động, yếu, phá hoại. Âm nhu mì và thuộc về nữ giới. Lực dương chỉ sự tích cực, hành động, mạnh mẽ, và có tính chất xây dựng. Dương cương kiện và thuộc về nam giới. Tất cả các tổ hợp gồm sáu vạch này tượng trưng cho tất cả các tình huống có thể có tất cả các hình thái biến dịch, tất cả các khả năng, và tất cả các định chế. Ý tưởng nền tảng chính là hai lực âm và dương này không ngừng tương tác với nhau, sinh ra biến dịch, và vạn sự vạn vật vĩnh viễn hòa lẫn vào nhau, hỗn hợp với nhau. Nói một cách đơn giản, sự thường hằng bất tận này chính là sự thường hằng biến dịch. Vũ trụ được hình dung như vậy bị chi phối bởi sự vận hành tự nhiên của những lực có thể xác định và đoán trước được một cách khách quan.

Khởi nguyên của Kinh Dịch chính là lòng khao khát dự đoán trước được tương lai dựa trên sự minh triết đã hóa thân thành biểu tượng trong các quẻ. Chữ Dịch (sự biến đổi) có ba nghĩa: 1) dễ dàng và giản dị, trái với những gì khó khăn và phức tạp; 2) biến đổi, thay đổi, biến hóa; 3) vững vàng và an tịnh, trái với những gì có tính chất nguy hiểm, do vậy nó có tính chất bất biến, bất dịch. Những nghĩa này đều được sử dụng như các ẩn ý trong toàn bộ quyển kỳ thư này.

64 quẻ sau đây đều có kèm theo các nghĩa từ và chú giải. Toàn bộ những nội dung đó chính là những gì mà ngày nay chúng ta gọi là Kinh Dịch.

LỊCH SỬ

Truyền thống cho rằng các tổ hợp vạch cơ bản của Kinh Dịch, tức Bát Quái (tám quẻ), là do vị anh hùng văn hóa thần thuyết Phục Hy tạo ra. Người ta cho rằng ông đã quan sát tất cả hiện tượng trong vũ trụ, và đã khám phá ra tính phổ biến của các qui luật và những cấu trúc đang chi phối mọi vật. Những hiện tượng và qui luật này được biểu hiện theo hình tượng tám quẻ (Bát Quái). Truyền thống vẫn chưa có sự thống nhất với nhau về người đã có công tạo ra 64 quẻ. Một số cho rằng đó là công của Phục Hy, còn một số khác cho đó là công của Văn Vương (khoảng 1171-1122 trước Công nguyên), người sáng lập nên triều đại nhà Chu (1111- 249 trước Công nguyên). Cho dù mức độ đáng tin cậy của những quy kết này có ra sao, thì điều chắc chắn cũng vẫn là ý tưởng về các tổ hợp vạch cũng như ý tưởng về các vạch liền và vạch đứt đã có từ rất xua.

Kinh văn hiện tại của chúng ta tương truyền là bản tu soạn từ hai cổ kinh mà nay đã thất truyền. Bản thứ nhất được gọi là Liên Sơn, “Những ngọn núi dứng liền với nhau”,

ra đời vào thời nhà Hạ (khoảng 2183-1752 trước Công nguyên). Còn bản thứ hai, được sử dụng vào thời nhà Thương (1751-1112 trước Công nguyên), có tên là Quy Tàng, “Trở lại chỗ ẩn nấp”. Chúng ta chỉ biết được tên của những quyển sách này, và cách sắp xếp cũng như tên của các quẻ thì khác hẳn.

Tên cổ của quyển kỳ thư này còn truyền đến thời của chúng ta ngày nay là Chu Dịch; Chu là tên của triều đại. mà những người sáng lập nên triều đại này đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc định hình nên bản kinh này. Người ta cho rằng đó là do công của Văn Vương hoặc con trai ông, Chu Công. Điều quan tâm của chúng ta ở đây không phải là thảo luận xem những phần nào của quyển sách này bắt nguồn từ nhân vật lịch sử nào. Điều quan trọng duy nhất phải lưu ý là quyển sách này có niên đại vào dầu nhà Chu, và ảnh hưởng của nhà Chu đã khiến Kinh Dịch chú trọng đến các vấn đề của con người.

Phần muộn hơn về sau này của quyển sách này chính là phần bình, được gọi là Thập Dực, và người ta cho đó là do công của Khổng Tử, mặc dù các học giả ngày nay đang có trong tay những chứng cứ để phản bác. Có lẽ da phần của Thập Dực do công của nhiều người ghi lại và san dịch trải qua một thời gian dài, từ thế kỷ thứ năm hay thử sáu cho đến tận thế kỷ thứ ba hay thứ tự trước Công nguyên. Tuy nhiên, quả đúng là Khổng Tử đã có nghiên cứu một cách nghiêm túc và tỉnh mật các quẻ cũng như các lời văn lúc ngài về già. Do đó, các lời bình rõ ràng chứa đựng dấu ấn về trí thông minh sắc sảo, trí phán đoán và những quan sát của ngài, làm ảnh hưởng đến các luận giả về sau, cho dù họ có là môn đỗ của Khổng Mạnh hay không.

Định mệnh cũng đã đóng một vai trò trong việc thúc đẩy giới trí thức quan tâm đến Kinh Dịch. Nó là một trong số vài quyển sách thoát được nạn đốt sách khủng khiếp vào năm 213 trước Công nguyên, do Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc, tiến hành. Kết quả là các học giả đã thu nạp Kinh Dịch bằng thái độ hết sức nhiệt thành, với cảm giác rằng đó là công cụ cuối cùng của con đường chuyên môn của mình. Họ đã đóng góp vào đó vô số chất liệu hỗn tạp, xuất phát từ những trường phái khác nhau như Lão giáo và các nhà triết học tự nhiên. Phần bình phong phú và đa dạng vây quanh tác phẩm này đã bắt nguồn từ những hoàn cảnh như vậy, và tạo nên truyền thống của Kinh Dịch.

Trộn lẫn với truyền thống của các quẻ còn có các trường phái cổ về thiên văn học và chiêm tinh học, với những khái niệm như Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ), Thập Thiên can và Thập nhị Địa chi. Được kết hợp vào 64 quẻ, những khái niệm này đã tạo thành nền tảng cho phép bói Dịch kể từ thời nhà Hán (206 tr.CN – 220 sau CN) trở đi. Nhiều trường phái tư tưởng đã sử dụng Kinh Dịch để dự đoán những biến cố lớn của quốc gia, và để giải thích sự phát triển của lịch sử – chứ không chỉ có các Nho gia. Điều này khiến Kinh Dịch có công dụng và ảnh hưởng rộng lớn hơn so với các kinh thư khác của Trung Quốc, và đảm bảo cho nó có một địa vị nổi trội, sinh động trong suốt chiều dài lịch sử.