Thái Âm tổng luận
Thái Âm thuộc tinh hệ Trung Thiên, người sinh vào ban đêm (giờ Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tí, Sửu) lấy nó làm chủ tinh, thuộc âm thủy.
Do Thái Âm cũng là chủ tinh, nên cũng ưa “bách quan triều củng”. Trong các tình hình thông thường, rất ưa Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, thì làm tăng sự sáng sủa, rực rỡ của nó, mà còn tăng bẩm tính thông minh, khí chất thanh nhã. Nếu chỉ gặp một mình Văn Xương hoặc Văn Khúc thì không phải, mà biến thành thủ đoạn, cổ nhân gọi là “giả văn vẻ”; gặp sát tinh là “ngụy quân tử”.
Thái Âm tuy cũng sáng sủa, rực rỡ, nhưng tính chất khác với Thái Dương. Tính chất của Thái Dương là khuếch tán phát xạ, tính chất của Thái Âm thì tiềm tàng và thu vào bên trong. Cho nên lúc đánh giá mệnh Thái Dương, thường ngại ánh sáng chói lọi của nó quá lộ, cho là điểm không lành; còn khi đánh giá mệnh Thái Âm thì ngại sự thu vào bên trong quá đáng của nó, cho là không điều hòa.
Do đó, lúc Thái Âm bất hòa, thường cần phải nhờ Thái Dương cứu. Lúc Thái Âm lạc hãm, Hóa Kị; hoặc lúc hội hợp các sao chủ về tiềm tàng và thu vào bên trong như Đà La, Linh Tinh, Thiên Hình, Hàm Trì, Đại Hao, Thiên Hư, Âm Sát; nếu được Thái Dương nhập miếu hoặc Hóa Lộc ở tam phương tứ chính hội hợp thì có thể cải thiện tính chất thu vào bên trong quá đáng của Thái Âm, phát huy cái tốt của nó, mới không thành vô dụng mà biến thành âm mưu thủ đoạn.
Trái lại, lúc Thái Âm nhập miếu, được cát hóa, lại ưa tính thu vào bên trong một cách thích đáng, đây gọi là “anh hoa nội liễm” (tài năng nhưng không lộ ra). Nếu gặp các sao Thiên Mã, Hỏa Tinh, Thiên Thương, Thiên Sứ, Cô Thần, Quả Tú, Phi Liêm, Phá Toái, thì không phải là “anh hoa nội liễm”, trái lại sẽ chủ về bên trong trống rỗng, không có thực chất, hành động phù phiếm.
Thái Dương chủ về quý, Thái Âm chủ về phú. Vì vậy Thái Âm gặp Hóa Lộc và Lộc Tồn là thành phú cách.
Thái Âm có sao lộc, ưa Văn Xương, Văn Khúc; nếu không có sao lộc mà gặp Văn Xương, Văn Khúc, thì tính chất của các sao khác mà nó gặp nên vững vàng, như Thái Dương đồng độ với Thái Âm. Cho nên cổ nhân luận mệnh số, có thuyết “Thái Âm và Thái Dương hội Văn Xương, Văn Khúc thì xuất thế vinh hoa”. Nếu thuộc tinh hệ hiếu động, trôi nổi, thì không nên gặp Văn Xương, Văn Khúc, cổ nhân nói: “Thái Âm có Thiên Cơ, Văn Xương, Văn Khúc đồng cung ở Dần, nam là nô bộc, nữ là xướng kĩ.” Là vì tinh hệ “Thái Âm, Thiên Cơ” quá hiếu động, trôi nổi.
Thông minh và cơ trí tiểu xảo vốn cách nhau chi một đường ranh. Trong trường hợp hội hợp Văn Xương, Văn Khúc, cần phải xem xét kĩ để phân biệt.
Còn trường hợp gặp “sao lẻ” Văn Xương hay Văn Khúc, nhất là trường hợp chỉ gặp một mình Văn Khúc, đối với Thái Âm rất là không nên. Người xưa nói đây là cách cục yếu kém “Văn Khúc Thái Âm, cửu lưu thuật sĩ”.
Gặp Lộc Tồn có nên đồng thời gặp thêm Thiên Mã hay không, còn phải xem Thái Âm là nhập miếu hay lạc hãm, tinh hệ có tính ổn định hay hiếu động, trôi nổi mà định. Ở đây hơi giống trường hợp Văn Xương, Văn Khúc.
Có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, có thể làm tăng địa vị của người có Thái Âm thủ mệnh; có Thiên Khôi, Thiên Việt hội chiếu, thì có lợi trong tranh chấp. Nhưng những phụ diệu này chỉ có thể dựa vào việc đã có mà làm tốt đẹp thêm; luận về bản chất, thông thường Thái Âm vẫn ưa gặp các tá diệu hơn, tức Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã.
Phụ diệu chủ về “tha lực”, tức do người khác giúp sức và gặp cơ hội tốt; còn tá diệu thì chủ về tự lực, bản thân phải nỗ lực mới có thể phát huy tiềm năng. Thái Âm ưa tá diệu hơn phụ diệu, do đó nỗ lực hậu thiên trở thành rất quan trọng. Cách cục Thái Âm tọa mệnh có tốt cũng chủ về phải trải qua phấn đấu mới có thành tựu. Khi luận đoán Đẩu Số, cần phải biết điều này.
Thái Âm giống Thái Dương, không ưa Kình Dương, Đà La. Người xưa nói “Thái Dương, Thái Âm gặp Kình Dương, Đà La chủ về phần nhiều khắc người thân”; “Thái Dương, Thái Âm ở cung hãm gặp các sao ác sát, chủ về vất vả bôn ba”. Nhưng Thái Âm lại sợ Kình Dương, Đà La hơn Thái Dương, cổ nhân nói: “Thái Âm gặp Kình Dương, Đà La, ắt sẽ xảy ra người thì chia li, tiền tài thì hao tán.”
Đối với sự ưa hay ghét Hỏa Tinh và Linh Tinh, cần phải xem mức độ sáng sủa rực rỡ của Thái Âm mà định.
Lúc có Địa Không và Địa Kiếp đồng độ, Thái Âm sẽ nhiều ảo tưởng, hay bất mãn, điều này dễ thành căn nguyên của sự thất bại trong đời; nữ mệnh cần đề phòng vì vậy mà ảnh hưởng đến đời sống tình cảm.
Thái Âm thủ mệnh, cung phúc đức có ảnh hưởng rất quan trọng đối với mệnh tạo.
Khi luận đoán Tử Vi Đẩu Số, cung mệnh và cung phúc đức vốn phải xem xét cùng lúc, có điều, đối với người có Thái Âm tọa mệnh thì vai trò của cung phúc đức càng quan trọng hơn.
Nếu Thái Âm yên tịnh ở cung mệnh, mà cung phúc đức lại biến động thay đổi, không ổn định, ví dụ như cung mệnh là “Thiên Đồng, Thái Âm”, Thái Âm Hóa Lộc, nhưng cung phúc đức lại là “Thái Dương, Cự Môn”, Cự Môn Hóa Kị, nếu lại có thêm các sao hình, sát thì mệnh tạo sẽ vì bị rối rắm khó xử về tinh thần mà ảnh hưởng đến sự yên ổn thực tế.
Nếu Thái Âm phát huy anh hoa đúng như phận của nó ở cung mệnh, mà cung phúc đức lại u ám, trôi nổi, hiếu động; ví dụ như cung mệnh Thái Âm Hóa Quyền ở Tuất, ánh sáng rực rỡ phát ra, nhưng Cự Môn ở cung phúc đức lại có Thiên Cơ Hóa Kị đối cung, nếu lại gặp các sao hình, sát, về tinh thần ắt sẽ có nhiều mặt u ám, mà còn hay làm chuyện thị phi sau lưng, nhiều cơ tâm, vì vậy mà ảnh hưởng đến Thái Âm ở cung mệnh.
Qua hai ví dụ kể trên, có thể thấy, cung phúc đức của Thái Âm thủ mệnh mà có Cự Môn thì nên chú ý.
Cổ nhân cho rằng đời người không nên thuộc Thái Âm tọa mệnh, Thái Âm lạc hãm thì càng không nên. Giống như người Thái Dương tọa mệnh sinh vào ban đêm, cũng có hai điều không tốt như sau:
(1) Bất lợi về lục thân phái nữ. Nam mệnh thì bất lợi về mẹ, vợ, con gái; nữ mệnh thì bất lợi mẹ và trưởng nữ. Bất lợi ở đây không nhất định là tử vong, có thể chỉ thuộc tình cảm không dung hợp, hoặc lục thân gặp nhiều nạn tai, bệnh tật.
(2) Bản thân mệnh tạo cũng thường gặp nhiều nạn tai, bệnh tật, nhất là bệnh hoạn ở thận và các cơ năng trọng yếu. Gặp Đà La còn sinh bệnh tật ở mắt, đặc biệt tinh hệ “Thái Âm, Thiên Đồng” thì càng nghiệm.
Kết cấu tinh hệ Thái Âm ở 12 cung, ắt sẽ đồng độ hoặc đối nhau với Thiên Đồng, Thái Dương, Thiên Cơ.
Thái Âm ở bốn cung Tí, Ngo, Mão, Dậu là tổ hợp “Thái Âm, Thiên Đồng”; “Thái Âm, Thiên Đồng” ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là tổ hợp “Thái Âm, Thái Dương”; “Thái Âm, Thiên Đồng” ở bốn cung Dần, Thân, Tị, Hợi là tổ hợp “Thái Âm, Thiên Cơ”.
Thông thường trong các tình hình này, khá ưa “Thái Âm, Thiên Đồng” của cung Tí; ưa Thái Âm độc tọa của hai cung Tuất hoặc Hợi; hơi ngại Thái Âm độc tọa của cung Tị, “Thái Âm, Thiên Đồng” của cung Ngọ.
Những trường hợp kể trên sẽ thuật rõ ở chương “Luận về sáu mươi tinh hệ”.
Thái Âm biệt luận
– Thái Âm lạc hãm cũng không đáng sợ
Thái Âm tức là mặt trăng. Trong Tử Vi Đẩu Số, Thái Âm và Thái Dương là một cặp “sao đôi” rất hữu lực của Trung Thiên, không thuộc Nam Đẩu, mà cũng không thuộc Bắc Đẩu. Hễ là “sao đôi” thì đều có tính chất vừa tương đồng mà cũng vừa tương dị. Thái Âm chủ về phú, Thái Dương chủ về quý; Thái Âm chủ về nữ, Thái Dương chủ về nam; Thái Âm chủ về nhu, Thái Dương chủ về cương; Thái Âm thuộc thủy, Thái Dương thuộc hỏa.
Cổ nhân cho rằng Thái Âm có sự biến hóa rất lớn. Ở các cung Hợi, Tí, Sửu là nhập miếu, về cơ bản là mệnh tốt; ở các cung Kỉ, Ngọ, Mùi là lạc hãm, sẽ mang lại tai hại rất lớn. Cổ nhân nói “Thái Âm lạc hãm thì tổn thương vợ và mẹ”, tức là bất lợi đối với người thân phái nữ; nếu là nữ mệnh thì nói “là xướng kĩ, tì thiếp hình phu khắc tử”.
Thuyết này quá võ đoán, thực ra luận đoán Đẩu Số không đơn giản như vậy, Thái Âm dù lạc hãm, cũng phải gặp tứ sát tinh và Địa Không, Địa Kiếp, hơn nữa còn phải có sát tinh đồng cung, thêm vào đó cung phúc đức và cung thân cũng không tốt, mới xảy ra sự cố không vui vẻ, chứ chẳng phải như cổ nhân đã nói.
Ở đây chúng ta thử lấy Thái Âm ở cung Ngọ làm ví dụ. (Xem hình 1)

Thái Âm ở cung Ngọ là lạc hãm, đồng cung với Thiên Đồng, Thiên Đồng cũng lạc hãm, chiếu theo thuyết của cổ nhân là : “hóa cát thì thành hung, gặp sát tinh thì dâm tà”, tức là nói, nếu Thái Âm và Thiên Đồng mà Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa, thì ngược lại, sẽ thành hung cục; nếu gặp tứ sát tinh thì không còn gì để nói. Nhưng trên thực tế thì không phải như vậy, có thể nói chẳng có chỗ nào đúng. Vương Đình Chi kể, ông từng đoán mệnh cho một nam, một nữ, đều là mệnh “Thiên Đồng, Thái Âm” thủ cung Ngọ, nam là một nhân vật quản lí cấp cao trong giới làm ăn kinh doanh, nữ là một chuyên gia trọng yếu của công ti quan hệ công cộng nổi tiếng.
Nguyên nhân chủ yếu là vì bối cảnh xã hội khác nhau. Phàm là người có “Thiên Đồng, Thái Âm” thủ mệnh ở cung Ngọ, đều có tính cách hướng nội, rất thích hợp với công tác nội vụ, đồng thời có tính kế hoạch rất mạnh, nhưng lại hay tưởng tượng. Tính cách này, ở xã hội cổ đại rất khó phát huy; ở xã hội hiện đại, thường thường có thể nhờ óc tưởng tượng mà sinh linh cảm, sau đó biến linh cảm thành kế hoạch. Hơn nữa, các công ti hiện đại đều có một bộ phận vạch kế hoạch, cho nên người có kết cấu cung mệnh dạng này có thể phát huy sở trường của họ.
– Thái Âm thủ mệnh, cần phải xem kèm cung phúc đức
Cổ nhân luận đoán các tình hình Thái Âm tọa thủ cung mệnh, chỉ căn cứ bối cảnh văn hóa xã hội thời cổ đại, cho nên nhiều tư liệu ngày nay chỉ có thể dùng để tham khảo.
Như câu “Thái Âm ở cung mệnh và cung thân, miếu vượng, chủ về một đời vui vẻ.” Ngày nay luận đoán này chưa chắc đã thích hợp. Đại khái là ở xã hội cổ đại, ít có tranh chấp, do Thái Âm chủ về “phú” nên cổ nhân mới cho rằng giàu có thì một đời sẽ vui vė. Ở xã hội hiện đại thì hoàn toàn không phải vậy.
Ví dụ như Thái Âm thủ mệnh ở cung Tuất, ánh sáng rực rỡ (thừa vượng), nhung cung phúc đức lại có Cự Môn ở cung Tí. Cung phúc đức chủ về tình trạng hưởng thụ tinh thần, Cự Môn tọa thủ cung Tí, ắt sẽ đối xung với Thiên Cơ, một khi gặp sát tinh sẽ dễ dẫn đến tranh chấp, khiến thân tâm đều bất an, làm sao “một đời vui vẻ”? Đây là do bối cảnh xã hội khác nhau gây nên sự khác biệt. (Xem hình 2)

Lại như cổ quyết nói: “Thái Âm ở cung Tí, thi cử đỗ đạt, làm quan cao, là người trung thành và ngay thẳng.” Hễ Thái Âm ở cung Tí, ắt sẽ đồng cung với Thiên Đồng, cổ nhân xem Thiên Đồng là “sao phúc”, khó trách họ đã đánh giá quá cao. Nhưng phúc khí của Thiên Đồng là phải nỗ lực mới có được, do đó cung phúc đức càng quan trọng. (Xem hình 3)

Lúc Thái Âm thủ mệnh ở cung Tí, cung phúc đức nhất định là Thái Dương và Cự Môn cùng thủ cung Dần, nếu gặp sát tinh, chủ về tinh thần bị rối rắm khó xử, đồng thời lúc tranh chấp dễ dùng thủ đoạn không chính đáng. Tình hình này nhất định sẽ ảnh hưởng đến sức kiên nhẫn và sự nỗ lực của Thiên Đồng, do đó cũng cần phải đánh giá lại luận đoán “Thái Âm ở cung Tí, thi cử đỗ đạt, làm quan cao, là người trung thành và ngay thẳng.”
Ở xã hội cổ đại, mọi việc còn đơn thuần, dù Thái Dương và Cự Môn thủ cung phúc đức có gặp sát tinh, cũng chỉ chủ về người này cần phải động não khi “nói năng” mà thôi, cho nên mới có thể thành “người trung thành và ngay thẳng”. Xã hội ngày nay, áp lực cạnh tranh rất lớn, bức bách người có “Thái Dương và Cự Môn gặp sát tinh thủ cung phúc đức” phải “xuất chiêu quyền biến”, làm sao “trung thành và ngay thẳng”? Cho nên khi đoán mệnh của người có “Thái Âm thủ mệnh”, cần phải xem kèm cung phúc đức để đánh giá.
