Thiên Lương tổng luận 

Thiên Lương là sao thứ ba của Nam Đẩu, thuộc dương thổ. 

Trong Đẩu Số, Thiên Lương được ví là giám sát ngự sử. Cổ nhân nói “thanh danh vinh hiển ở vương thất, chức vị đến phong ninh.” (hiển thanh danh vu vương thất, chức vị lâm vu phong ninh), quan phong ninh là chủ về “nghe chuyện mà tấu vua” (văn phong tấu sự), can gián hoàng để, đàn hạch đại thần, tuy không chủ quản về hình pháp, nhưng trong thực tế thì có ý vị của hình pháp, kỉ luật, nguyên tắc. 

Cho nên Thiên Lương tuy gọi là “ấm tinh” (sao che chở), nhưng về bản chất lại có tính “cô kị”. 

Thích hành động một mình, tính tình mạnh mẽ, tính nguyên tắc rất mạnh, đây là tính cách thuộc phương diện “cô kị”. Ở phương diện khác, thì thích căn cứ vào nguyên tắc của mình để giải quyết bất hòa, tranh chấp, phân xử thị phi, do đó thường thường bị cuốn vào vòng khó khăn, dẫn đến không được an toàn. Cũng chính vì vậy, phàm là người có Thiên Lương tọa mệnh rất nên theo ngành y dược, bảo hiểm, công tác xã hội; tức những nghề nghiệp liên quan đến “ấm” (che chở). 

Thiên Lương không ưa Hóa Lộc, hoặc có Lộc Tồn đồng độ; nếu không, sẽ chủ về vì tiền bạc mà bị đố kị, do đó mà xảy ra thị phi; hoặc tiền bạc của nó thuần túy nhờ vào việc hóa giải khó khăn của người khác mà có. Cho nên chỉ thích hợp với những nghề nghiệp có sắc thái giải nạn, làm tan biến phiền toái cho người khác. Cũng cùng là Thiên Lương hóa lộc, đối với bác sĩ, thầy thuốc thì nó là sao cát; còn đối với thương nhân thì nó là sao xấu. Bởi vì làm tan biến phiền toái cho bệnh nhân là chức trách của bác sĩ và thầy thuốc; còn đối với thương nhân thì lại chủ về phải trải qua khó khăn mới có kiếm được tiền. 

Nhưng bất kể như thế nào, Thiên Lương mà có sao lộc, tất sẽ khơi động tính cách mạnh mẽ nào đó thuộc về bản chất của nó. Vì vậy “Thiên Lương, Thiên Đồng” vốn chủ về mệnh tạo có phong cách đặc biệt, nhưng gặp sao lộc thì trở thành “xuôi theo dòng nước”. 

Cho nên lúc luận đoán Thiên Lương, cần phải quan sát hai phương diện: 

(1) Các sao hội hợp có ảnh hưởng như thế nào đối với tính “cô kị” của nó, làm mạnh thêm hay làm yếu đi? 

(2) Tính tình của Thiên Lương sẽ vì các sao hội hợp mà thay đổi như thế nào? 

“Cơ Nguyệt Đồng Lương” là một cách cục nổi tiếng. Cổ nhân nói: “Cơ Nguyệt Đồng Lương chủ về làm lại nhân” (Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân). 

Nhưng khi “Thiên Đồng, Thiên Lương” đồng độ, “Thiên Cơ, Thiên Lương” đồng độ, Thiên Lương đoc tọa, Thiên Đồng độc tọa, “Thiên Cơ, Thái Âm” đồng độ… thì các tình hình cung mệnh của “Cơ Nguyệt Đồng Lương” trên thực tế vẫn có sự phân biệt. Nói một cách đại khái, lấy cách cục Thiên Lương ở cung mệnh là cách cục khá tốt, bởi vì so với các trường hợp khác thì nó ít có tâm kế hơn. 

Nhưng bất kể như thế nào, trong tổ hợp “Cơ Nguyệt Đồng Lương”, Thiên Lương ắt sẽ có tính “cô kị”, gặp tứ sát tinh, thì tính “cô kị” càng nặng, cần phải hội hợp với Văn Xương, Văn Khúc mới có thể điều hòa. 

Cổ nhân nói: “Thiên Lương, Thiên Đồng, Thiên Cơ, Thái Âm ở hai cung Dần hoặc Thân, chủ về cuộc đời lợi về nghề nghiệp, thông minh.” (Lương Đồng Cơ Nguyệt Dần Thân vị, nhất sinh lợi nghiệp thông minh), nói “lợi nghiệp thông minh”, nhưng tính “cô kị” vẫn là chuyện tất nhiên. 

Ngoại trừ sát tinh ra, Thiên Lương còn không ưa gặp Thiên Mã, Địa Không, Địa Kiếp. 

Thiên Lương vốn có sắc thái thích hành động một mình, gặp Thiên Mã sẽ biến thành ngựa không cương, phóng đãng. 

Cổ nhân nói: “Thiên Lương Thiên Mã ở hãm địa. chủ về trôi dạt, không còn nghi gì.” (Thiên Lương Thiên Mã hãm, phiêu đãng vô nghi) 

Phàm Địa Không, Địa Kiếp ở cung mệnh, vốn đã có sắc thái cuồng ngạo, lạnh nhạt, không kềm chế, lí tưởng chủ nghĩa, không chịu hòa hợp với người khác; nếu Thiên Lương đồng độ với chúng, thì tư tưởng của mệnh tạo càng khó hiểu. 

Khẩu quyết của phái Trung Châu là: “Thiên Lương gặp Địa Không, Địa Kiếp, chủ về người này là Nguyễn Tịch, Kê Khang.” (Thiên Lương Không Kiếp, kì nhân Nguyễn Tịch, Kê Khang) Nguyễn Tịch, Kê Khang là danh sĩ đời Tấn, trong nhóm “Trúc lâm thất hiền”, uống rượu như dùng thuốc, lại có nhiều lời bình luận về thế sự mà bị giết, tâm tình của những người này hoàn toàn là tư tường của khoảng nửa đầu thế kỉ thứ 20. 

Có Thiên Hình đồng độ, làm mạnh thêm tính nguyên tắc của Thiên Lương, có lúc có thể biến thành lòng dạ như sắt thép; nếu lại gặp Kình Dương, thì tính càng cô độc. Khẩu quyết của phái Trung Châu là: “Thiên Lương gặp Thiên Hình, người này giống như Bao Chửng mặt sắt.” (Thiên Lương Thiên Hình, kì nhân thiết diện Bao Chửng), đây là ví với “Thiết diện vô tư” Bao Chửng đời Tống, con người không sợ quyền quý, rất sùng thượng pháp trị. Trường hợp ở hai cung Ngọ hoặc Mùi thì càng nặng. 

Lúc “Thiên Lương, Thái Dương” đồng độ, lại có Văn Xương, Lộc Tồn hội hợp, là cách cục nổi tiếng “Dương Lương Xương Lộc”. 

Cổ nhân nói: “Dương Lương Xương Lộc, tên truyền đứng đầu”, (Dương Lương Xương Lộc, lư truyền đệ nhất danh), đây là kết cấu tinh hệ có lợi về thi cử. Kết cấu này chủ yếu là vì Thái Dương có thể hóa giải tính “cô” của Thiên Lương, hơn nữa tính nguyên tắc của Thiên Lương được nhuyễn hóa thành tính nguyên tắc trong học thuật. Vì vậy, ở xã hội hiện đại, cách “Dương Lương Xương Lộc” trở thành tinh hệ có lợi trong việc nghiên cứu học thuật. Nghiên cứu học thuật cần chú trọng việc “tu học”, tức là bản thân phải không ngừng phủ định mình, thì học thuật mới tiến bộ; cho nên không sợ các sao sát, hình đồng độ. Nhưng nếu nhìn từ góc độ tranh chấp thuận lợi hay không, thì có các sao sát, hình là không nên. 

Trong các tình hình thông thường, Thiên Lương bất lợi khi gặp sát tinh. Cổ nhân nói “nếu tứ sát tinh xung phá thì mạ không trổ đẹp.” (Nhược tứ sát xung phá tắc miêu nhi bất tú); “Thiên Lương ở hãm địa gặp Kình Dương, Đà La, chủ về thương phong bại tục.” (Thiên Lương hãm địa kiến Dương Đà, thương phong bại tục); “Thiên Lương ở hãm địa gặp Hỏa Tinh, Kình Dương là phá cục, chủ về thấp hèn, cô quả, chết yêu.” (Thiên Lương hãm địa ngộ hoả dương phá cục, hạ tiện cô quả yểu triết) 

Thiên Lương ưa gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, cổ nhân gọi là “Có thêm Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, chủ về làm quan lớn văn lẫn võ.” (Xương Khúc Tả Hữu gia hội, xuất tướng nhập tướng). 

Thiên Lương phân bố trong 12 cung, sẽ đồng độ hoặc đối nhau với ba sao Thiên Đồng, Thái Dương, Thiên Cơ, nên có mối quan hệ rất mật thiết. 

Ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Thiên Lương và Thái Dương đối nhau; ở hai cung Mão hoặc Dậu, “Thiên Lương, Thái Dương” đồng độ; cho nên ở bốn cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu, là tổ hợp “Thiên Lương, Thái Dương”. 

Ở hai cung Sửu hoặc Mùi, Thiên Lương và Thiên Cơ đối nhau; ở hai cung Thìn hoặc Tuất, “Thiên Lương, Thiên Cơ” đồng độ; cho nên ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, là tổ hợp “Thiên Lương, Thiên Cơ”. 

Ở hai cung Tị hoặc Hợi, Thiên Lương và Thiên Đồng đối nhau; ở hai cung Dần hoặc Thân, “Thiên Lương, Thiên Đồng” đồng độ; cho nên ở bốn cung Dần, Thân, Tị, Hợi, là tổ hợp “Thiên Đồng, Thiên Lương”. 

Thông thường, trường hợp Thiên Lương độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Ngọ khá dễ cấu tạo thành cách cục tốt; còn Thiên Lương độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi thì dễ thành phá cách. Các trường hợp này sẽ thuật rõ ở chương “Luận về sáu mươi tinh hệ”. 

Thiên Lương biệt luận

 – Thiên Lương tọa mệnh, phần nhiều chủ về sống cô lập 

Các chính diệu có quan hệ rất mật thiết với Thiên Lương là Thái Dương, Thiên Đồng, Thiên Cơ. Tình hình cụ thể như sau:

 – Ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Thiên Lương độc tọa, đối nhau với Thái Dương. 

 – Ở hai cung Sửu hoặc Mùi, Thiên Lương độc tọa, đối nhau với Thiên Cơ.

 – Ở hai cung Dần hoặc Thân, Thiên Lương đồng độ với Thiên Đồng

 –  Ở hai cung Mão hoặc Dậu, Thiên Lương đồng độ với Thái Dương.

 – Ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Thiên Lương đồng độ với Thiên Cơ.

 – Ở hai cung Tị hoặc Hợi, Thiên Lương độc tọa, đối nhau với Thiên Đồng. 

Tinh hệ do Thiên Lương và Thái Dương cấu tạo thành là kết cấu tốt nhất, bởi vì Thiên Lương vốn có tính chất “cô độc và hình khắc”, có thể được Thái Dương hóa giải. Do đó có thể biết Thái Dương nên nhập miếu hoặc thừa vượng. Ví dụ như Thái Dương của cung Ngọ và của cung Mão, ánh sáng và nhiệt đều thịnh ở cung Dậu hoặc cung Tí, vì vậy Thiên Lương nên ở cung Tí để được Thái Dương của cung Ngọ đối chiếu; Thiên Lương và Thái Dương cùng ở cung Mão thì tốt hơn so với lúc cùng ở cung Dậu; còn Thiên Lương tọa thủ cung Ngọ, được Thái Dương của cung Tí vây chiếu, cách cục này không bằng các cách cục trên. 

Hễ Thiên Lương và Thái Dương cấu tạo thành tinh hệ, dễ hình thành cách cục “Dương Lương Xương Lộc”, tức là hội hợp thêm Văn Xương và Lộc Tồn. Cách cục này rất lợi về tham gia thi cử, nhất là các cuộc thi tuyển quan trọng cấp quốc gia. Vì vậy người có cách cục này dễ thành chuyên viên nghiên cứu học thuật. Dù không gặp Văn Xương và Lộc Tồn, kết cấu “Thái Dương, Thiên Lương” thực ra vẫn lợi về nghiên cứu học thuật, bởi vì làm việc trong chính giới thì phong ba quá lớn, còn làm thương nghiệp thì cũng ba chìm bảy nổi. 

Tình hệ Thiên Lương và Thiên Cơ, cổ nhân cho rằng “là người giỏi bàn luận binh pháp”. Đây là do Thiên Cơ có tài ăn nói mà còn mưu trí và quyền biến, Thiên Lương thì thích biểu hiện bản thân. Ở thời cổ đại, văn nhân có thể bàn luận binh pháp, được cho là văn võ toàn tài; nếu ở thời hiện đại, kết cấu “Thiên Cơ, Thiên Lương” không nhất định là giỏi bàn luận binh pháp, có thể ba hoa lí luận về đầu cơ cổ phiếu… 

Hình 1

Tổ hợp Thiên Lương và Thiên Đồng (xem hình 4) dễ thành người cao ngạo, ỷ tài. Bởi vì Thiên Lương ưa soi bói, bởi móc, còn Thiên Đồng thì thích hưởng thụ, hai tính chất này kết hợp lại, mệnh tạo sẽ thường cảm thấy bất mãn xã hội, hay nghĩ “tha cho ta đi”, bản thân thì hay ngồi “luận đạo”, cho rằng trong thiên hạ không ai bằng mình. Nhưng nếu có thể phát triển theo hướng tốt, thì mệnh tạo sẽ là người có tâm tư tinh tế, không chịu hòa hợp với mọi người, có Thiên Lương đồng cung phần nhiều chủ về sống cô lập.

 – Thiên Lương có đặc tính “tiêu tai giải khó” không? 

Thiên Lương là một sao mà cổ thư gây hiểu lầm nhất về luận đoán. Các sách cổ đều nói Thiên Lương là “thọ tinh”, hóa khí làm “ấm” (che chở), có công năng tiêu tai giải ách, che chở cho thân mệnh, phúc cho con cháu. Thậm chí còn nói “thanh danh vẹn toàn, hiển đạt ở vương thất”. “nếu có thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, thì làm quan văn lẫn quan võ”. Toàn là nói Thiên Lương mang lại điềm cát tường. 

Chỉ có Tuệ Tâm Trai Chủ là nói đúng chân tướng của sự tình, tiên phong khám phá đặc tính của Thiên Lương. Bà nói: “Trong các sao, Thiên Lương là sao có sức mạnh nhất về phùng hung hóa cát, gặp nạn thì mang lại điều lành. Bởi vì cần phải biểu hiện sức mạnh giải khó và mang lại điều lành, nên người có Thiên Lương tọa mệnh bất kể ở cung vị nào, nếu không có cát tinh hội chiếu, sẽ không tránh được phải tao ngộ cảnh khốn khó, để cho Thiên Lương hóa giải.” 

Sau đó, những người viết sách Đẩu Số cũng hiểu ra mà thay đổi cách nhìn về Thiên Lương, không còn đồng ý toàn bộ những lời tán dương quá đáng trước kia. Trong số các thuyết cổ, chỉ có thể căn cứ ca quyết “Thiên Lương gặp Thái Âm, chủ về nữ dâm bần”, để chỉ ra khuyết điểm của tinh hệ Thiên Lương. Nhưng lại hiểu lầm ý của câu “Thiên Lương, Thiên Đồng đối nhau ở Tị Hợi, nam thì phóng đãng, nữ thì đa dâm”; hầu như cho rằng nữ mệnh có kết cấu tinh hệ này đều là người dâm đãng. 

Thực ra, Thiên Lương không quá tệ, cũng không quá tốt, mà chỉ là mang lại cho mệnh tạo khốn khó hoặc hung hiểm trước, sau đó mới hóa giải trong vô hình mà thôi. Ví dụ như chịu phẫu thuật ắt sẽ không chết; sự nghiệp sắp lâm vào cảnh vỡ nợ, sập tiệm thì đột nhiên gặp cơ hội được phù trợ; đang gặp đủ thứ nạn tai, bệnh tật, kết quả một ngày nào đó mọi thứ xui xẻo đều qua khỏi, v.v… Chính vì như vậy, nên người có Thiên Lương tọa mệnh khi đến tuổi sau trung niên, quay đầu hồi tưởng lại những chuyện trước kia, thường thường sẽ cảm thấy đời người là “hư ảo”, do đó tư tưởng phần nhiều có khuynh hướng tiêu cực. 

Một tính chất khác của Thiên Lương đó là thần bí. Người có Thiên Lương tọa mệnh sẽ không tự biết khuynh hướng tín ngưỡng đối với sự vật thần bí của mình. Nếu phát triển theo hướng tích cực, thì họ sẽ thích tìm hiểu một số vấn đề mà xã hội đương thời cho rằng rất khó thâm nhập, nhưng chỉ dừng lại ở lí luận mà thiếu thực tiễn. Nếu phát triển theo hướng xấu thì sẽ có tính hay soi bói, bởi móc, vạch lá tìm sâu, khiến cho người ta cảm thấy khó tiếp cận. 

Do đó phải xem Thiên Lương tọa mệnh là mệnh danh sĩ, đây mới là tính chất cơ bản của Thiên Lương.

 – Phân biệt tính chất tốt xấu của Thiên Lương 

Do tính chất của Thiên Lương biến hóa đa đoan, bất kể là tổ hợp “Thái Dương, Thiên Lương”, “Thiên Lương, Thiên Cơ” hay “Thiên Lương, Thiên Đồng” đều rất dễ có biến hóa cực đoan. 

Thiên Lương không nên gặp các sao có tính chất hiếu động, trôi nổi. Đây là đặc điểm thứ nhất, cho nên cổ nhân có thuyết “Thiên Lương, Thiên Mã hãm địa, nhất định sẽ trôi nổi vô định”; “Thiên Lương, Thái Âm, chủ về nữ dâm bần”; “Thiên Lương ở cung Dậu, Thái Âm ở cung Tị, là khách phiêu bồng”. 

Thiên Lương rất kị gặp Kình Dương và Đà La. Đây là đặc điểm thứ hai, cho nên cổ nhân có thuyết “Thiên Lương hãm địa gặp Kình Dương, Đà La, chủ về bại hoại phong tục”. 

Thiên Lương ưa ở cung miếu vượng, được các sao phụ, tá đến chầu. Vì vậy Thiên Lương không ưa ba cung hãm Tị, Thân, Hợi; ở cung Dậu cũng chê bình thường. Nói “các sao phụ, tá”, là chỉ Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã; kế đến là các tạp diệu Tam Thai, Bát Tọa, Long Trì, Phượng Các, Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Quan, Thiên Phúc. Đây là đặc điểm thứ ba, cho nên cổ nhân có thuyết “Thiên Lương thủ chiếu, gặp cát tinh, cuộc đời phúc thọ”; “Thiên Lương ở cung miếu vượng, có Tả Phụ, Hữu Bật Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, chủ về làm quan văn lẫn quan võ”. 

Lưu diệu của đại hạn lưu niên cũng có ảnh hưởng đối với Thiên Lương. Thiên Lương ưa gặp hai lưu diệu Thanh Long, Tấu Thư. Gặp nó đều chủ về có chuyện vui về văn thư. Nhưng “văn thư” ở đây khác với “văn thư” của Văn Xương, Văn Khúc. “Văn thư” của Văn Xương, Văn Khúc, có thể chỉ trái phiếu, chi phiếu và cổ phiếu; còn Thiên Lương gặp “văn thư” của Thanh Long, Tấu Thư, là chi công văn của nhà nước hay của công ti, tập đoàn lớn. Thông thường phần nhiều chỉ việc được thăng chức, hoặc được phong danh hàm, học hàm. 

Do Thiên Lương gặp cát tinh thì hành động một mình, gặp hung tinh thì tính tình cô độc, nên bất kể là cát hay hung đều lợi về nghiên cứu học thuật. Cổ nhân nói “Thiên Lương, Thiên Đồng, Thiên Cơ, Thái Âm ở hai cung Dần, Thân, chủ về một đời lợi nghiệp, thông minh”, đây là phát huy tính chất hiếu động, trôi nổi và cơ trí, lại thêm vào “cô khắc hình kị”, nếu hậu thiên có tu dưỡng, biến tính cách hiếu động, trôi nổi thành linh động, mệnh tạo có thể trở thành một nhân tài trong giới học thuật.