Hỏa Tinh thuộc dương hỏa, Linh Tinh thuộc âm hỏa, cho nên có thuyết “Hỏa minh Linh ám”; tức là Hỏa Tinh mang lại điều không hay từ chính diện, ngoài sáng; còn Linh Tinh thì ngầm mang lại tai hại, trong tối.
Cũng do bản chất này nên “Hỏa Tinh, Kình Dương” chủ về “kích phát”, còn “Linh Tinh, Đà La” chủ về “trui rèn”.
Hễ Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh ở cung mệnh, hoặc ở cung phụ mẫu, chủ về lúc bé đã chia li với gia đình hoặc làm con thừa tự người khác.
Hỏa Tinh thủ mệnh, hoặc thủ cung phụ mẫu, gặp các sao phụ, tá không đủ cặp (sao lẻ), chủ về cha mẹ “lưỡng trùng”, có hai họ, hoặc cha mất sớm.
Hỏa Tinh ưa đồng độ với Tham Lang, chủ về đời người tích cực tiến thủ.
“Tử Vi, Thất Sát” cũng ưa có Hỏa Tinh ở cùng một cung, gặp thêm Kình Dương thì càng đẹp, cũng chủ về tích cực tiến thủ. Có điều không bằng “Hỏa Tham” Hóa Lộc, có thể phát lên một cách nhanh chóng. (Tử Vi tọa mệnh, đến cung hạn Thất Sát, cũng chủ về đột nhiên biến thành hanh thông; nhưng không bằng “Hỏa Tham” chủ về kiếm được tiền.)
Hai kết cấu sao thuật ở trên, không nên có Đà La đồng độ, nếu không, sẽ thành cách cục phá hoại.
Hỏa Tinh bay đến cung có tinh hệ ổn định (như Tử Vi, “Tử Vi, Thiên Phủ”, Thiên Phủ, Thiên Lương, v.v…), có các sao phụ, tá hội hợp, có thể khiến tinh hệ chính diệu thiên về phát triển tính cương. Ví dụ như “Thái Dương, Thiên Lương” chỉ có tính chủ quan, thêm Hỏa Tinh thì thành tính ngoan cố.
Uy lực của Linh Tinh kém hơn Hỏa Tinh, nhưng là âm hỏa nên khá kéo dài, vì vậy mang lại tai nạn cũng có tính lâu dài. Ví dụ như Hỏa Tinh phần nhiều mang lại tổn thất vật chất chỉ thuộc loại không may nhất thời; còn Linh Tinh mang lại tai nạn thường kèm có đau khổ nội tâm, mệnh tạo rất khó quên.
Bốn sao Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, Vũ Khúc ở hai cung Thìn hoặc Tuất, chủ về thất bại, mà thất bại là do mệnh tạo tự chuốc lấy. Nếu có Lưu Đà, Lưu Xương xung khởi nguyên cục “Linh Xương Đà Vũ”, thì tai họa càng kịch liệt (sẽ bàn thêm ở sau).
Liêm Trinh Hóa Kị, có Kình Dương đồng độ, lại gặp Linh Tinh, gọi là “Hình tù hội Linh”, chủ về chết bất ngờ, hoặc chết trong binh đao. Nguyên cục “Hình tù hội Linh”, lưu niên có Lưu Dương xung khởi, thì họa tai càng dữ dội, thường thường xảy ra trong kì khắc ứng.
“Liêm Trinh, Thất Sát” có Kình Dương đồng độ, gặp Linh Tinh, gọi là “Liêm Sát Dương Linh”, là mệnh chết ngoài chiến trường.
Linh Tinh cũng không ưa đồng độ với Phá Quân, chủ về kinh doanh làm ăn thất bại, nhưng thích hợp các nghề nghiệp có tính trắc trở, như nha sĩ, bác sĩ, chuyên viên về trật đả, làm nghề tháo dỡ, thợ sửa xe, thợ sửa thuyền, v.v…
Hễ có Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, cung bị giáp thường thường rất xấu. Như giáp cung tài bạch, chủ về vất vả bôn ba mà tài khí rất kém; Hỏa Tinh và Linh Tinh chia ra ở cung phúc đức và cung mệnh, chủ về cuộc đời nhiều sóng gió, trắc trở; Hỏa Tinh và Linh Tinh chia ra ở cung mệnh và cung phu thê, phần nhiều cũng chủ về vợ chồng không được êm ấm, đời người khó thuận lợi toại ý.
Các chính diệu không ưa bị Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung là Thiên Cơ, Thiên Đồng, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương. Các chính diệu này cũng không ưa chúng đồng cung, dễ thành phá cách. Như “Thiên Cơ, Cự Môn” an mệnh ở cung Mão, Cự Môn Hóa Lộc, là “Cơ Cự đồng lâm cách” chủ về phú quý; nếu có “Hỏa Tinh, Linh Tinh” đồng độ thì chỉ chủ về no ấm mà không giàu sang.
Cung phu thê gặp Hỏa Tinh và Linh Tinh, chủ về thành hôn trong lúc bối rối vội vàng.
“Hỏa Tinh, Linh Tinh” ở cung mệnh, chủ về trước thì “việc sắp thành lại hỏng”, trải qua nỗ lực mới chuyển thành “việc sắp hỏng thì lại thành”. Người theo võ nghiệp gặp chúng thì chủ về lập được công trạng.
Nữ mệnh gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, cổ nhân cho rằng hiếp đáp chồng, khắc con, quan hệ nhân tế rất kém, tính cách cương cường; nặng nhất là gặp Hỏa Tinh, còn nói là lòng dạ lang sói. Những luận đoán trên cần phải xem xét tinh hệ chính diệu của cung mệnh mới định được; không thể luận đoán lung tung, loạn xạ như vậy.
Cung phúc đức gặp Hỏa Tinh và Linh Tinh, phẩn nhiều nội tâm nóng nảy, nhưng vẫn có phân biệt. Hỏa Tinh chủ về tính “cương” (cứng rắn), Linh Tinh chủ về tính “liệt” (dữ dội). Tính “cương” thì phần nhiều nóng này, tính “liệt” thì không nói nhưng dùng hành động để phản kháng.
Cho nên hai sao tuy cùng có tính cứng rắn, nhưng tính cứng rắn của Hỏa Tinh mang tính chất chính diện, bộc trực; còn tính cứng rắn của Linh Tinh thì thâm trầm hơn.
Hai sao rất ưa đồng độ với Tham Lang, kế đó là hội hợp với Tham Lang, gọi là cách “Hỏa Tham” hay cách “Linh Tham”, chủ về phát lên một cách nhanh chóng, hoặc chủ về lập được công danh một cách nhanh chóng. Ngoài ra, Hóa Tinh và Linh Tinh cũng ưa đồng độ với hai chính diệu Tử Vi, Thất Sát. Tử Vi có thể hóa giải tính cứng rắn của Hỏa Tinh và Linh Tinh; Thất Sát thì có uy và có thể nhiếp phục Hỏa Tinh và Linh Tinh. Cho nên nếu so sánh thì mệnh cục Tử Vi có Hỏa Tinh đồng độ sẽ ít sóng gió, trắc trở hơn mệnh cục Thất Sát có Hỏa Tinh đồng độ.
Cự Môn là ám tinh, rất kị gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, bởi vì Hỏa Tinh, Linh Tinh không đủ sức làm sáng Cự Môn, mà “ám” của Cự Môn thì đủ để làm u ám Hỏa Tinh, Linh Tinh. Nếu Cự Môn đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về là người dễ xung động, hẹp lượng, mà còn nhiều thị phi.
Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng không ưa Liêm Trinh; Liêm Trinh là âm hỏa, các sao hỏa cùng tụ tập ở một cung, gặp Thất Sát và Kình Dương sẽ chủ về xảy ra bất trắc.
Liên quan đến Hỏa Tinh, Linh Tinh, cổ nhân có lập hai cách cục, một là “Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp mệnh”, hai là “Linh Xương Đà Vũ”.
Cổ nhân nói “Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp mệnh là bại cục”, trong Đẩu Số, hễ bị một cặp sát tinh giáp cung, nhất định sẽ có khuyết điểm, như “Kình Dương, Đà La” giáp cung, “Địa Không, Địa Kiếp” giáp cung, và “Hỏa Tinh, Linh Tinh” giáp cung. Cung bị “Hỏa Tinh, Linh Tinh” giáp cung sẽ có khuyết điểm gì, thì phải xem tinh hệ bị giáp cung mà định, thông thường, sẽ khiến đời người bị giảm sắc.
Xuất thân như nhau, cùng học như nhau, thậm chí cùng làm việc trong một cơ cấu, đến sau trung niên lại một thăng, một trầm; có thể là vì bị “Hỏa Tinh, Linh Tinh” giáp mệnh, mà chính diệu của cung mệnh lại vô lực.
Nếu bị giáp cung là tinh hệ hữu lực, như “Vũ Khúc, Thất Sát”, “Vũ Khúc, Thiên Phủ”, “Liêm Trinh, Thất Sát”, “Tử Vi, Thất Sát”, sẽ chủ về mệnh tạo vẫn có thể phát dương quang đại, bất quá chỉ phải trải qua gian khổ mà thôi.
Nhưng nếu cung vị bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung lại có Kình Dương, thì lúc luận đoán phải cực kì cẩn thận. Kình Dương có thể biến thành thiện mà cũng có thể biến thành ác, không thể luận chung chung được. Lúc này phải quan sát các sao hội hợp ở tam phương tứ chính mà định tính chất của nó.
Còn cách “Linh Xương Đà Vũ” là an mệnh ở hai cung Thìn hoặc Tuất, mà tam phương tứ chính lại tụ hội bốn sao Linh Tinh, Đà La, Văn Xương, Vũ Khúc. Cổ nhân nói “Linh Xương Đà Vũ, hạn đến thì nhảy sông”, chủ về có tai nạn sông nước. Đây là do cổ nhân chứng nghiệm được nên đưa ra kết luận này. Theo Vương Đình Chi, thực ra cũng có thể xem là điểm báo tai nạn thông thường, nhất là về giao thông.
Cần lưu ý, nếu nguyên cục có Vũ Khúc và Linh Tinh hội chiếu (Hỏa Tinh thì không phải), trong đại hạn hoặc lưu niên cần phải có Lưu Xương, Lưu Đà hội hợp, bởi vì cách cục “Linh Xương Đà Vũ” cũng bao gồm cả Lưu Xương, Lưu Đà. Vốn dĩ đã có Đà La, Văn Xương, lại bay vào Lưu Đà hoặc Lưu Xương, xung khởi Đà La, Văn Xương, thì tai họa sẽ dễ xảy ra, năm đó cần phải cẩn thận giữ gìn sức khỏe, đồng thời đề phòng tai nạn sông nước và tai nạn giao thông.
