Kình Dương thuộc dương kim, kèm tính dương hỏa; còn Đà La thì thuộc âm kim, kèm tính âm hỏa. Do có tính chất “hỏa luyện kim”, vì vậy trường hợp cát thì “tôi luyện”, trường hợp hung thì “thiêu đốt”.
Kình Dương gọi là “sao hình”, Đà La gọi là “sao kị”, là để hình dung “hung tính” của chúng. Kình Dương gặp Hỏa Tinh sẽ thành lực “kích phát”, Đà La gặp Linh Tinh cũng thành hoàn cảnh “trui rèn”, lúc này không còn là “hình kị”. Bởi vì Kình Dương gặp Hỏa Tinh cũng giống như luyện kim loại thành vật hữu dụng; Đà La gặp Linh Tinh cũng giống như nung chảy kim loại thành vật liệu; tính hung của tứ sát tinh sẽ tác động lẫn nhau mà tiêu trừ, còn chuyển hóa thành lợi ích.
Nhìn ở một góc độ khác, kết cấu “Kình Dương, Hòa Tinh” còn chủ về “minh tranh” (tranh chấp ngoài sáng, trực diện), vì có “minh tranh” mới có lực “kích phát”. Kết cấu của “Đà La, Linh Tinh” lại chủ về “ám đấu” (đấu nhau ngầm, trong tối, không trực diện), vì có “ám đấu” mới chủ về “trui rèn”.
Nhưng nếu tình huống giao thoa kể trên xảy ra ngược lại, Kình Dương gặp Linh Tinh, thì dương hỏa không đủ nung chảy khối kim loại; hoặc Đà La gặp Hỏa Tinh, thì lửa mạnh không đủ để rèn kim loại, trái lại sẽ chủ về “đun nấu” thành tính chất không lành.
Trên là các đặc điểm kết hợp của tứ sát tinh.
Về cơ bản, Kình Dương có lực phá hoại, thường thường còn chủ về xảy ra tình trạng lung lay về nền tảng, có tính phá hoại, cho nên gọi là “hình”. Tính phá hoại của nó là những điều không may đến một cách công khai, mệnh tạo thấy rất rõ mà không thể tránh né.
Kình Dương có khí “hình sát”, vì vậy thích hợp công tác trong quân đội, cảnh sát, lãnh vực pháp luật, làm bác sĩ ngoại khoa, hoặc nhân viên kĩ thuật; mà không thích hợp tự kinh doanh làm ăn, cũng không thích hợp làm việc trong chính giới.
Kình Dương ưa ở cung “Tứ Mộ” (tức bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), nhất là hai cung Thìn, Tuất “Thiên La, Địa Võng”; rất ưa Kình Dương “kích phát” hội hợp với Hỏa Tinh, như vậy lực “kích phát” càng lớn. Lúc đại vận đến cung độ này, cần phải xem xét kĩ tinh hệ chính diệu của cung hạn để định cảnh ngộ, thông thường đều phải trải qua trắc trở, gập gềnh, bất đắc chí trước, rồi mới thành tựu, những trắc trở này có ảnh hưởng tốt đối với hậu vận.
Kình Dương không ưa Liêm Trinh, cũng không ưa Cự Môn. Gặp tinh hệ của hai chính diệu này, còn đồng độ với Hòa Tinh, thì không phải là “kích phát”, trái lại sẽ chủ về thị phi hoặc nạn tai, bệnh tật. Đây là vì Liêm Trinh thuộc âm hỏa, bản chất xung đột với Hỏa Tinh, Kình Dương; Cự Môn thuộc âm thổ, đủ để giải trừ dương hỏa. Bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, cung mệnh mà gặp chúng, cuộc đời sẽ nhiều tai họa, bệnh tật.
Cách “Hỏa Tham” hoặc “Linh Tham” cũng không ưa gặp Kình Dương, chủ về sau khi phát lên một cách nhanh chóng sẽ xảy ra tranh chấp, tiềm phục nguy cơ suy sụp rất nhanh chóng. Cho nên cần phải chọn phương kế bảo thủ, buông bỏ chuyện tranh chấp với đối thủ, mới có thể “theo cát tránh hung”.
Tinh hệ Vũ Khúc đồng độ với Kình Dương lại không thích hợp với võ nghiệp; nếu Kình Dương chỉ hội hợp ở tam phương thì thích hợp công tác trong quân đội, cảnh sát, bảo an.
Tham Lang không ưa đồng độ với Kình Dương. Ở cung Ngọ, Tham Lang thành cách cục “Mộc hỏa thông minh”, gặp Kình Dương tuy cũng là “Mã đầu đới kiếm”, nhưng không phải chính cách, chủ về phải trải qua gian khổ mới phát lên rồi biến thành hanh thông, nhưng hanh thông lại không được lâu, cần phải đề phòng tai họa lửa nước, trộm cướp, phạm pháp, thất bại… sẽ xảy ra sau khi hưng thịnh.
Tham Lang và Kình Dương ở cung Tí, gọi là “Phiếm thủy đào hoa”, chủ về đời người chìm đắm trong tửu sắc, cũng không phải là kết cấu đẹp.
Đà La chủ về lần lữa, cố chấp, thị phi, đố kị, những thứ không hay này đều ngầm xảy ra, mệnh tạo khó biết nguyên nhân tại sao, cho nên gọi Đà La là “sao ki”. Đà La mang lại bất lợi giống như bị bắn lén (ám tiễn), thường thường khó “xu cát tị hung”, hơn nữa hậu quả bất lợi phần nhiều cũng kéo dài một thời kì.
Đà La ưa ở cung “Tứ Mộ”, nhưng ưa hai cung Sửu, Mùi hơn; ở cung “Thiên La, Địa Võng” nó không có lực đột phá.
Đà La rất kị đồng độ với tinh hệ Tham Lang, đối với cách cục “Hỏa Tham” và “Linh Tham” lực phá hoại của nó khá lớn, bởi vì có thể khiến tính chất “đột nhiên biến thành hanh thông” trở thành tính chất “kéo dài”, là có mâu thuẫn rất lớn, thế là nảy sinh lực phá hoại. Thông thường tinh hệ Tham Lang gặp Đà La, chủ về vì sắc dục mà mắc bệnh nan y.
Tham Lang đồng độ với Đà La ở cung sự nghiệp tại Dần, gọi là “phong lưu thái trượng”, chủ về vi chìm đắm trong tửu sắc mà ảnh hưởng đến sự tiến thủ; nhưng nếu ở cung mệnh thì lại chủ vẽ mệnh tạo thông minh tuấn tú.
Tham Lang đồng độ với Đà La ở cung Hợi, cũng gọi là “Phiếm thủy đào hoa”, không phải là cách cục tốt.
Đà La không ưa đồng độ với Cự Môn, chủ về thị phi trùng trùng ở sau lưng, hoặc chủ về có ám tật.
Đà La không ưa đồng độ với Thất Sát, mệnh cục này không thích hợp đối với nữ mệnh, chủ về chồng con li tán, hoặc lấy chồng rất muộn.
Hễ Đà La thủ cung phu thê, chủ về kết hôn muộn; thủ cung tử nữ, chủ về chậm có con.
Đà La ở cung sự nghiệp hoặc cung tài bạch, thích hợp với ngành công nghệ, khoa học kĩ thuật, không thích hợp tự kinh doanh làm ăn.
Kình Dương và Đà La luôn luôn giáp Lộc Tồn, nếu tinh hệ chính diệu không tốt mà đồng độ với Lộc Tồn, sẽ chủ về keo kiệt, bủn xỉn, đa nghi. Nếu tinh hệ chính diệu cát, thì chủ về nhiều lo toan nghĩ ngợi.
Thiên Lương đồng độ với Lộc Tồn ở cung Tị, bị Kình Dương và Đà La giáp cung, lại có các sao sát, hình xung phá, vào năm Dậu, năm Sửu phải đề phòng tai họa lao ngục.
“Tử Vi, Thất Sát” ở cung hai cung Tị hoặc Hợi, cũng không ưa bị Kình Dương và Đà La giáp cung, chủ về lúc gặp cơ hội tốt để phát triển liền bị người ta gây trở ngại.
Kình Dương và Đà La giáp cung có chính diệu Hóa Kị, đây là cách cục “Kình Đà giáp Kị”, chủ về nạn tai, bệnh tật, thất bại.
Nếu cung mệnh có Đà La đồng độ, cung phúc đức ắt sẽ gặp Kình Dương, thông thường tư tưởng thì có lực “kích phát” nhưng hành động lại do dự, thiếu quyết đoán.
Nếu cung mệnh đồng độ với Kình Dương, cung phu thê ắt sẽ gặp Đà La, chủ về tính cách vợ chồng không hợp nhau.
Nam mệnh Thái Âm Hóa Kị ở cung mệnh hoặc cung phu thê, bị Kình Dương và Đà La giáp cung, chủ về hôn nhân bất lợi, bị vợ gây lụy.
Nữ mệnh Thái Dương Hóa Kị ở cung mệnh hoặc cung phu thê, bị Kình Dương và Đà La giáp cung, chủ về có người chồng không tốt, hoặc chủ về chồng bị nạn tai, bệnh tật.
Như đã biết, Kình Dương và Đà La là một cặp sát tinh trong Đẩu Số. Kình Dương chủ về “hình”, Đà La chủ về “kị”, cho nên Kình Dương không ưa gặp Liêm Trinh, bởi vì Liêm Trinh chủ về “tù”, cổ nhân nói là “sao hình và sao tù cùng đến”, còn không ưa gặp Phá Quân, bởi vì Phá Quân chủ về “hao”, cổ nhân nói là “sao hình, sao hao cùng tới”. Đà La thì không ưa gặp Hóa Kị, cổ nhân nói là “kị hóa tương xung”.
Từ tính chất trên mà phân biệt, Kình Dương có thể gọi là “chân tiểu nhân”, còn Đà La thì giống như “ngụy quân tử”. Kình Dương mang lại tai hại chỉ thuộc nhất thời, như phải phẫu thuật, sau phẫu thuật thì bình an; còn Đà La mang lại tai hại có tính chất kéo dài. Ví dụ như mắc bệnh, tuy không chủ về động dao động kéo, nhưng lại khiến người ta đau ốm triền miên.
Kình Dương hay gây ra xung đột, sau khi xung đột, bất kể là tốt xấu thế nào, sự tình cũng sẽ được giải quyết. Đà La thì không phải vậy, có mâu thuẫn, xung đột sẽ không xảy ra công khai mà ngầm kéo dài, kết quả là rất hao phí tinh lực. Vì vậy, Kình Dương chủ về dứt khoát, còn Đà La chủ về dây dưa.
Kình Dương chi ưa gặp Hỏa Tinh, là dương kim gặp dương hỏa, chủ về phải trải qua gian khổ mới có thành tựu.
Đà La cũng ưa gặp Linh Tinh (cách “Linh Xương Đà Vũ” là ngoại lệ), là âm kim gặp âm hỏa, chủ về đời người tuy có thành tựu, nhưng phải gặp nhiều tình huống rối rắm khó xử trong âm thầm, khiến cho mệnh tạo không thể nhàn hạ; còn dễ xảy ra hiện tượng “cát” thì chậm đến, “hung” thì chậm tiêu, tuy “cát” cũng sẽ đến, “hung” cung sẽ tiêu, khiến cho người ta cảm thấy ngày tháng trôi qua một cách vô ích.
Cho nên so sánh hai sao thì “Hỏa Tinh, Kình Dương” đồng cung sẽ ưu hơn “Linh Tinh, Đà La” đồng cung.
“Kình Dương, Đà La giáp cung”, do tính chất “Hình Kị” giáp cung, nên cung bị giáp sẽ gặp nhiều bất lợi. Có điều, cung bị “Kình Dương, Đà La” giáp cung ắt sẽ có Lộc Tồn, nên khá dễ “xu cát tị hung”.
Ở xã hội hiện đại, hai sao Kình Dương, Đà La còn chủ về kĩ năng chuyên môn, tức câu cổ nhân nói “tay nghề khéo mà yên thân”. Vì vậy người hiện đại may mắn hơn người xưa; thời cổ đại, địa vị của thợ thuyền rất thấp hèn, ngày nay một chuyên viên cũng có cơ hội phát đạt.
